Báo cáo Tình trạng khí hậu toàn cầu 2025: Khí hậu Trái đất ngày càng mất cân bằng

Báo cáo Tình trạng khí hậu toàn cầu 2025: Khí hậu Trái đất ngày càng mất cân bằng

Đúng vào Ngày Khí tượng thế giới 23/3/2026, Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) đã công bố Báo cáo Tình trạng khí hậu toàn cầu 2025. Theo Báo cáo, khí hậu Trái đất đang mất cân bằng hơn bao giờ hết, khi nồng độ khí nhà kính tiếp tục làm khí quyển và đại dương ấm lên và băng tan chảy. Giai đoạn 2015-2025 là 11 năm nóng nhất trong lịch sử; trong hai thập kỷ qua, đại dương đã hấp thụ lượng nhiệt gấp khoảng 18 lần lượng năng lượng mà con người sử dụng hàng năm. Những thay đổi nhanh chóng và quy mô lớn này xảy ra chỉ trong vài thập kỷ nhưng sẽ gây ra những hậu quả tai hại trong hàng trăm năm, và có thể hàng nghìn năm tới. Dưới đây là một số thông tin chính từ Báo cáo.

Các khí nhà kính trong khí quyển

Dữ liệu từ các trạm quan trắc riêng lẻ cho thấy nồng độ của ba loại khí nhà kính chính (CO2, CH4 và N2O) tiếp tục tăng trong năm 2025.

Số liệu mới nhất cho thấy năm 2024 nồng độ trung bình CO2 trong khí quyển là 423,9 ± 0,2 ppm, cao hơn 3,5 ppm so với năm 2023 và tăng 152% so với nồng độ ước tính thời kỳ tiền công nghiệp (năm 1750). Đây là mức tăng hàng năm lớn nhất kể từ khi các phép đo hiện đại bắt đầu vào năm 1957.

Năm 2024, nồng độ trung bình khí CH4 và N2O trong khí quyển lần lượt là 1942 ± 2 ppb và 338,0 ± 0,1 ppb, tăng tương ứng 266% và 125% so với thời kỳ tiền công nghiệp.

Sự gia tăng nồng độ  CO2 trong khí quyển do phát thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch tiếp tục tăng trong khi hiệu quả hấp thụ carbon của đất liền và đại dương giảm sút.

Nhiệt độ gần bề mặt trung bình toàn cầu

Mười một năm qua, từ 2015 đến 2025, là chuỗi 11 năm nóng nhất từng được ghi nhận.

Năm 2025 là năm nóng thứ hai hoặc thứ ba (tùy thuộc vào bộ dữ liệu) trong 176 năm có dữ liệu quan trắc. Nhiệt độ gần bề mặt trung bình toàn cầu cả năm cao hơn khoảng 1,43 ± 0,13 °C so với mức trung bình thời kỳ tiền công nghiệp 1850–1900.

Tuy nhiên, năm 2024 – bắt đầu với hiện tượng El Niño mạnh – vẫn là năm nóng nhất, với nhiệt độ cao hơn khoảng 1,55 °C so với mức trung bình giai đoạn 1850–1900.

Nhiệt lượng của đại dương  

Năm 2025, nhiệt lượng trong đại dương (đến độ sâu 2.000 mét) đã đạt mức cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận dữ liệu vào năm 1960, cao hơn 24 ± 16 ZJ so với   mức kỷ lục trước đó vào năm 2024.

Trong chín năm qua, mỗi năm nhiệt lượng tích trữ trong đại dương đều lập kỷ lục mới.

Tốc độ ấm lên của đại dương trong hai thập kỷ qua (2005 đến 2025) cao gấp đôi so với tốc độ quan sát được trong giai đoạn 1960 – 2005, vào khoảng 11,0–12,2 ZJ/năm – gấp khoảng 18 lần năng lượng mà con người sử dụng hàng năm.

Bất chấp điều kiện La Niña, khoảng 90% diện tích bề mặt đại dương đã trải qua ít nhất một đợt sóng nhiệt trong năm 2025.

Hiện tượng ấm lên của đại dương gây ra những hậu quả sâu rộng, như suy thoái hệ sinh thái biển, mất đa dạng sinh học và giảm khả năng hấp thụ carbon của đại dương. Nó thúc đẩy sự hình thành các cơn bão nhiệt đới và cận nhiệt đới, đồng thời làm trầm trọng thêm tình trạng mất băng biển đang diễn ra ở các vùng cực.

Mực nước biển trung bình toàn cầu  

Năm 2025, mực nước biển trung bình toàn cầu tương đương với mức cao kỷ lục được ghi nhận vào năm 2024, khoảng 11 cm so với thời điểm bắt đầu ghi nhận dữ liệu đo độ cao bằng vệ tinh vào năm 1993.

Mức tăng hàng năm từ 2024 đến 2025 thấp hơn so với từ 2023 đến 2024, phù hợp với sự biến động ngắn hạn liên quan đến điều kiện La Niña.

Nước biển dâng gây thiệt hại cho hệ sinh thái ven biển, gây nhiễm mặn nước ngầm và gây ngập lụt.

pH đại dương

Khoảng 29% phát thải CO2 từ hoạt động của con người đã được đại dương hấp thụ, dẫn đến sự giảm liên tục pH đại dương. Dữ liệu cho thấy pH bề mặt đại dương đã thay đổi với tốc độ -0,017 ± 0,001 đơn vị pH mỗi thập kỷ trong giai đoạn 1985–2025.

Theo IPCC, có độ tin cậy rất cao rằng giá trị pH bề mặt hiện nay là chưa từng có trong ít nhất 26.000 năm qua.

Sự thay đổi pH của đại dương có sự khác biệt giữa các khu vực. Giảm mạnh nhất pH bề mặt được quan sát thấy ở Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương, phía đông xích đạo Thái Bình Dương, phía bắc vùng nhiệt đới Thái Bình Dương và một số khu vực ở Đại Tây Dương.

Hiện tượng axit hóa đại dương gây hại cho đa dạng sinh học, hệ sinh thái và sản xuất thực phầm từ nuôi trồng thủy sản và đánh bắt cá.

Cân bằng khối lượng sông băng

Trong năm thủy văn 2024/2025, lượng băng tan chảy từ các sông băng tham chiếu nằm trong số năm năm tồi tệ nhất từng được ghi nhận. Xu hướng gia tăng lượng băng tan chảy kể từ khi bắt đầu ghi nhận dữ liệu vào năm 1950 tiếp tục diễn ra, với 8 trong số 10 năm có lượng băng tan chảy lớn nhất xảy ra kể từ năm 2016.

Năm 2025, lượng băng tan ở Iceland và dọc bờ biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ đã giảm mạnh ở mức độ bất thường.

Độ phủ băng biển  

Độ phủ băng biển (phần diện tích đại dương có mật độ băng từ 15% trở lên) trung bình hàng năm ở Bắc Cực năm 2025 là mức thấp nhất hoặc thấp thứ hai trong lịch sử ghi nhận từ kỷ nguyên vệ tinh (1979), và độ phủ băng biển trung bình ở Nam Cực năm 2025 là mức thấp thứ ba sau năm 2023 và 2024.

Độ phủ băng biển tối đa ngày ở Bắc Cực (sau đợt đóng băng mùa đông) năm 2025 là mức tối đa hàng năm thấp nhất trong lịch sử quan sát (từ năm 1979), chỉ khoảng 14,19 triệu km2.

Độ phủ băng biển tối thiểu ngày ở Nam Cực (sau khi tan chảy vào mùa hè) đứng thứ hai trong số các kỷ lục quan sát được. Bốn năm qua đã chứng kiến ​​bốn mức phủ băng biển tối thiểu ở Nam Cực thấp nhất trong lịch sử.

Mất cân bằng năng lượng

Đây là chỉ số mới được WMO đưa vào lần đầu trong báo cáo năm nay. Mất cân bằng năng lượng của Trái đất (Earth’s Energy Imbalance, EEI) là một chỉ số khí hậu quan trọng đo lường tốc độ tích lũy lượng nhiệt bị giữ lại bởi khí nhà kính do con người gây ra trong hệ thống khí hậu. Nhiệt lượng này làm ấm đại dương, các lục địa và khí quyển, đồng thời làm tan chảy băng. EEI kết hợp thông tin về những thay đổi trong tất cả các bộ phận của hệ thống khí hậu một cách toàn diện và tổng thể, cho phép định lượng và dự đoán tốt hơn những thay đổi trong hệ thống khí hậu.

Từ năm 1960, EEI đã gia tăng, đặc biệt là trong 20 năm qua so với 66 năm trước đó. Tốc độ tăng của EEI được ước tính từ nhiệt lượng trong đại dương là 0,13 ± 0,03 W/m2 mỗi thập kỷ trong giai đoạn 1960–2025. Tốc độ này tương đối ổn định trong các giai đoạn 1970–2025, 1980–2025 và 1990–2025, nhưng cao hơn trong giai đoạn 2001 đến 2025 ở mức 0,30 ± 0,1 W/m2 mỗi thập kỷ.

Các hiện tượng cực đoan và tác động

Phần phụ lục của báo cáo cung cấp cái nhìn tổng quan về các hiện tượng cực đoan, dựa trên thông tin từ các thành viên của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), Tổ chức Di cư quốc tế (IOM), Trung tâm Giám sát di cư nội địa (IDMC), Cao ủy LHQ về người tị nạn (UNHCR), Chương trình Lương thực thế giới (WFP) và Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của LHQ (FAO), tập trung vào các khía cạnh khí tượng và tác động liên quan đến di dời và an ninh lương thực.

Thời tiết cực đoan gây ra những tác động dây chuyền đối với sản xuất nông nghiệp. Tình trạng mất an ninh lương thực do biến đổi khí hậu hiện nay được xem là một rủi ro, với những ảnh hưởng dây chuyền đến ổn định xã hội, di cư và an ninh sinh học thông qua sự lây lan của sâu bệnh hại cây trồng và dịch bệnh động vật.

Nó cũng tiếp tục gây ra tình trạng di dời dân cư kéo dài và liên tục trên toàn cầu, với những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng ở các khu vực dễ bị tổn thương và chịu ảnh hưởng bởi xung đột. Tác động dây chuyền và chồng chất của nhiều thảm họa làm hạn chế nghiêm trọng khả năng chuẩn bị, phục hồi và thích ứng với các cú sốc của các cộng đồng dễ bị tổn thương.

Tác động của khí hậu và nhiệt độ đến sức khỏe

Biến đổi khí hậu có tác động sâu rộng đến tỷ lệ tử vong, sinh kế, hệ thống y tế, đồng thời làm gia tăng các rủi ro như bệnh truyền nhiễm qua côn trùng và nước, cũng như các yếu tố gây căng thẳng về sức khỏe tâm thần, đặc biệt là đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

Sốt xuất huyết là căn bệnh nổi bật do muỗi truyền có tốc độ lây lan nhanh nhất thế giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng một nửa dân số thế giới đang có nguy cơ mắc bệnh và số ca mắc bệnh được báo cáo hiện đang ở mức cao nhất từ ​​trước đến nay.

Căng thẳng nhiệt đang trở thành một vấn đề ngày càng nghiêm trọng. Hơn một phần ba lực lượng lao động toàn cầu (1,2 tỷ người) phải đối mặt với rủi ro về nhiệt tại nơi làm việc vào một vài thời điểm trong năm, đặc biệt là những lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng.

Tính đến năm 2023, chỉ khoảng một nửa số quốc gia cung cấp dịch vụ cảnh báo sớm về nhiệt phù hợp với nhu cầu của ngành y tế, và thậm chí còn ít hơn nữa các quốc gia đã tích hợp đầy đủ thông tin khí hậu vào quy trình ra quyết định trong lĩnh vực y tế.

Cần thiết phải tích hợp dữ liệu khí tượng và khí hậu với các hệ thống thông tin y tế để cho phép những người ra quyết định chuyển từ ứng phó thụ động sang phòng ngừa chủ động để có thể cứu sống nhiều người.

Tải về bản đầy đủ Báo cáo Tình trạng khí hậu toàn cầu 2025 tại đây.

Xem lại thông tin Báo cáo Tình trạng khí hậu toàn cầu 2024 trên website Khoa Môi trường tại đây.

 

Nguồn: https://wmo.int/publication-series/state-of-global-climate/state-of-global-climate-2025

Loading