Nghị quyết của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường

Nghị quyết của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường

Chủ tịch Quốc hội đã ký ban hành Nghị quyết số 247/2025/QH15 về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. Nghị quyết đã được biểu quyết thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV ngày 10/12/2025 trên cơ sở xem xét Báo cáo số 756/BC-ĐGS của Đoàn giám sát của Quốc hội về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành.

Tại Điều 1, Nghị quyết đánh giá việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) kể từ khi Luật BVMT năm 2020 có hiệu lực thi hành đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội và hội nhập quốc tế. Bên cạnh kết quả đạt được, việc quy định chi tiết và tổ chức thực hiện Luật BVMT còn một số hạn chế, bất cập. Các nguyên nhân khách quan, chủ quan đã được Nghị quyết nêu ra.

Điều 2 của Nghị quyết nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp gồm 3 nhóm:

1. Nhiệm vụ, giải pháp đột phá

a) Đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế, chính sách về BVMT và tổ chức thực thi quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả

Thống nhất trong nhận thức và hành động, coi chi cho môi trường là đầu tư cho phát triển, bảo đảm an ninh môi trường; loại bỏ quan điểm “BVMT sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế”.

Thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng và tổng kết, đánh giá, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT phù hợp với yêu cầu thực tế.

Thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên và được quản lý trên môi trường số; chủ động xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Kinh tế hóa môi trường, trong đó thiết lập cơ chế định giá tài nguyên, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và nâng cao hiệu quả của công cụ thuế môi trường, phí môi trường, hạn ngạch phát thải…

Tiếp tục đẩy mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tăng cường kiểm tra, giám sát; cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

b) Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực cho BVMT

Chú trọng đầu tư phát triển các công trình BVMT và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).

Bố trí đúng, đủ, quản lý có hiệu quả và tăng dần chi ngân sách cho BVNT tương ứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm từ năm 2027 tỷ trọng ngân sách chi cho BVMT trong tổng chi ngân sách nhà nước tăng hơn so với năm 2025.

Hoàn thiện và triển khai hiệu quả các công cụ kinh tế trong BVMT; phát huy vai trò của các quỹ BVMT, huy động nguồn lực tư nhân thông qua các công cụ tài chính xanh để triển khai các dự án đầu tư xanh, dự án BVMT, giảm phát thải khí nhà kính.

Đa dạng hóa nguồn cung tín chỉ các-bon trong và ngoài nước, trong đó ưu tiên cho phát triển thị trường trong nước. Tích cực, chủ động tham gia đàm phán, ký kết và thực hiện các thỏa thuận quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ về tri thức, tài chính, kỹ thuật của quốc tế phù hợp với lợi ích quốc gia…

Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho BVMT, ứng phó với BĐKH, trong đó ưu tiên vào một số lĩnh vực then chốt như: công nghệ tái chế, xử lý chất thải, kinh tế tuần hoàn; ứng dụng chuyển đổi số trong BVMT; quản lý và vận hành thị trường các-bon trong nước, kiểm kê và giảm phát thải khí nhà kính, triển khai giải pháp thích ứng với BĐKH… Đẩy mạnh liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nhằm hình thành hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu – ứng dụng trong BVMT, ứng phó với BĐKH. 

c) Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực BVMT, ứng phó với BĐKH

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số trong BVMT, ứng phó với BĐKH, nhất là trong quản lý chất thải, kiểm soát nguồn thải…

Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ chiến lược trong BVMT, ứng phó với BĐKH, tập trung vào: giám sát, đánh giá, phân tích và cảnh báo môi trường; tái chế, xử lý chất thải; cải tạo, phục hồi môi trường và bảo tồn hệ sinh thái; phát triển năng lượng sạch, giảm phát thải các-bon.

Xây dựng sàn giao dịch các-bon trong nước; vận hành Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, thiết lập hệ thống báo cáo kiểm kê khí nhà kính trực tuyến phục vụ doanh nghiệp.

Xây dựng và nhân rộng các giải pháp, mô hình thành phố, đô thị sinh thái thông minh, giao thông thông minh và quản lý năng lượng thông minh.

Xây dựng và thực hiện các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong BVMT, ứng phó với BĐKH; phát triển các chuyên ngành khoa học mũi nhọn trong tái chế chất thải, sản xuất vật liệu thân thiện với môi trường.

2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, hoàn thành đến hết năm 2026

a) Tổng kết, đánh giá việc thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BVMT năm 2020, trình Quốc hội xem xét, thông qua đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Trong năm 2025, xem xét sửa đổi ngay một số điều của Luật; đồng thời sửa đổi quy định về lộ trình, thời gian áp dụng đối với chính sách về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân cho phù hợp với yêu cầu thực tế.
Trong năm 2026, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan đến thuế, phí BVMT.

b) Tổ chức rà soát, đánh giá và cập nhật, điều chỉnh trong trường hợp cần thiết các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có liên quan đến BVMT, ứng phó với BĐKH để đáp ứng yêu cầu “mở rộng và kiến tạo không gian phát triển mới”…

c) Ban hành và triển khai hiệu quả Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2025 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời thực hiện ngay các biện pháp cấp bách kiểm soát, ngăn chặn và khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm không khí tại thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn thành việc đánh giá khả năng chịu tải và công bố kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt một số lưu vực sông liên tỉnh có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội…

d) Khẩn trương hoàn thành và đưa vào vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, bảo đảm tích hợp, kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia và chia sẻ theo thời gian thực; tích hợp với hệ thống thông tin địa lý để xây dựng bản đồ chất lượng môi trường, công bố, công khai cho cộng đồng và triển khai áp dụng cho một số đô thị lớn (thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh…).

đ) Thiết lập và vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước; hoàn thiện các quy định pháp lý về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon với quốc tế, làm cơ sở triển khai hợp tác trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon với các đối tác quốc tế…

3. Nhiệm vụ, giải pháp đến năm 2030 và các năm tiếp theo

a) Phòng ngừa, kiểm soát và ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường; dự báo sớm tác động của BĐKH;

b) Khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường có trọng tâm, trọng điểm;

c) Tăng cường hiệu quả quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại;

Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt 95%, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được thu gom, xử lý đạt 85%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng hình thức chôn lấp trực tiếp so với lượng chất thải được thu gom giảm dưới 50%; giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải nhựa thông qua việc thu hồi trên 30% chất thải nhựa phát sinh thải ra môi trường.

d) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác ứng phó với BĐKH;

đ) Nâng cao hiệu quả tuân thủ quy định của pháp luật về BVMT;

e) Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về BVMT và ứng phó với BĐKH;

g) Tăng cường nguồn lực và hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT…

Tại Điều 3, Nghị quyết giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo tổ chức thực hiện, báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Nghị quyết này tại cùng kỳ họp với báo cáo công tác BVMT hằng năm; ban hành chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết, trong đó xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, lộ trình, tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ và bảo đảm kinh phí thực hiện; trước mắt, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đột phá và các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, hoàn thành đến hết năm 2026.

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra và báo cáo việc thực hiện Nghị quyết này theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức thực hiện, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới trong lĩnh vực môi trường (Phụ lục kèm theo Nghị quyết 247/2025/QH15)

TT Tên văn bản sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới

Thời hạn thực hiện

2025-2026 2026-2031
1                 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BVMT. X
2                 Luật BĐKH và các văn bản quy định chi tiết thi hành. X
3                 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về cảnh sát môi trường. X
4                 Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2025/NĐ-CP ngày 07 tháng 07 năm 2022 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. X
5                 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cập nhật, điều chỉnh danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. X
6                 Sửa đổi, bổ sung các nghị định, thông tư quy định chi tiết thi hành Luật BVMT (liên quan đến các nghị định, thông tư như: Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2022, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2025, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022, Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2025; Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT ngày 07 tháng 01 năm 2022, Thông tư số 08/2025/TT-BNNMT ngày 17 tháng 6 năm 2025, Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022, Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT ngày 28 tháng 02 năm 2025…) X
7                 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái sử dụng nước thải làm nước tưới cây. X
8 Quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia về bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt X

 

Xem và tải về toàn văn Nghị quyết 247/2025/QH15 tại đây.

Loading