TNLĐ vẫn diễn biến phức tạp, cả 5 chỉ số đều tăng so với cùng kỳ năm trước
| Chỉ số | 6 tháng đầu 2026 | 6 tháng đầu 2025 | So 2026 với cùng kỳ 2025 | |||||
| QHLĐ | Ko. HĐLĐ | Tổng | QHLĐ | Ko.HĐLĐ | Tổng | Số lượng | Tỷ lệ % | |
| Tổng số vụ TNLĐ | 3252 | 163 | 3415 | 2451 | 118 | 2569 | +846 | +32.9% |
| Số vụ TNLĐ chết người | 293 | 85 | 378 | 240 | 62 | 302 | +76 | +25.2% |
| Số người bị TNLĐ | 3304 | 172 | 3476 | 2510 | 123 | 2633 | +843 | +32.0% |
| Số người chết vì TNLĐ | 303 | 88 | 391 | 255 | 64 | 319 | +72 | +22.6% |
| Số người bị thương nặng | 682 | 65 | 747 | 627 | 33 | 660 | +87 | +13.2% |
(QHLĐ: khu vực có quan hệ lao động, Ko.HĐLĐ: khu vực không có hợp đồng lao động)
Số vụ TNLĐ và số người bị nạn tăng một phần trong bối cảnh phạm vi, số lượng cơ sở và người lao động tham gia báo cáo được mở rộng; tuy nhiên, việc số vụ TNLĐ chết người, số người chết và số người bị thương nặng đồng thời tăng cho thấy nguy cơ xảy ra TNLĐ nghiêm trọng vẫn diễn biến phức tạp, hiệu quả kiểm soát nguy cơ, rủi ro tại một bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa bền vững.
TNLĐ có sự tập trung tương đối rõ, tạo cơ sở để chuyển sang quản lý theo rủi ro
Điểm rất đáng chú ý là các vụ TNLĐ nghiêm trọng không phân bố hoàn toàn ngẫu nhiên mà tập trung vào một số ngành và nhóm yếu tố chấn thương.
|
TNLĐ chết người nhiều nhất theo loại hình cơ sở SXKD |
||
| Loại hình CS SXKD | % số vụ | % số người |
| Công ty cố phần | 40 | 26.7 |
| Công ty TNHH | 36.7 | 33.3 |
| DNNN, đơn vị HCSN | 10 | 13.3 |
|
Lĩnh vực SXKD xảy ra nhiều TNLĐ chết người |
||
| Lĩnh vực | % số vụ | % số người |
| Khai thác khoáng sản | 13.3 | 13.3 |
| SX vật liệu xây dựng | 13.3 | 10 |
| Xây dựng | 6.7 | 6.7 |
| Dệt may, gia giày | 6.7 | 6.7 |
|
Các yếu tố chấn thương gây chết người nhiều nhất |
||
| Yếu tố chấn thương | % số vụ | % số người |
| Ngã cao | 20 | 20 |
| Vật rơi, đổ, sập | 16.7 | 16.7 |
| Máy, TB cán, kẹp, cuốn | 10 | 10 |
| Điện giật | 6.7 | 6.7 |
Những hạn chế về dữ liệu TNLĐ
Khu vực người lao động làm việc không theo HĐLĐ tiếp tục là khoảng trống lớn trong quản lý và phòng ngừa. Chỉ có 19 địa phương báo cáo có TNLĐ, 14 địa phương báo cáo không có vụ nào và 01 địa phương không báo cáo.
Chất lượng dữ liệu TNLĐ vẫn là điểm nghẽn của quản lý nhà nước. Chỉ khoảng 23,84% doanh nghiệp thực hiện báo cáo. Đáng chú ý, chỉ riêng ở 18/34 địa phương, ngành y tế đã ghi nhận 7.786 trường hợp đến khám, điều trị do TNLĐ, trong khi hệ thống báo cáo TNLĐ toàn quốc chỉ ghi nhận 3.476 người bị nạn. Độ chênh rất lớn này là tín hiệu rõ ràng cần thiết lập cơ chế đối chiếu dữ liệu giữa Nội vụ – Y tế và các nguồn liên quan.
Khi dữ liệu không được báo cáo đầy đủ, số hồ sơ điều tra chuyển về Trung ương còn thấp, khả năng phân tích và cảnh báo ở cấp quốc gia tất yếu bị hạn chế.
Tải về toàn văn Thông báo số 11241/TB-BNV ở đây.
Truy cập tất cả thông báo tai nạn lao động hàng năm từ 2015 đến 2025 tại đây.
![]()
