Tai nạn lao động: Cách thức bất bình đẳng toàn cầu định hình rủi ro tại nơi làm việc

Tai nạn lao động: Cách thức bất bình đẳng toàn cầu định hình rủi ro tại nơi làm việc

An toàn lao động thường được thảo luận dưới góc độ các mối nguy có thể nhận diện, hệ thống tuân thủ và đào tạo. Những yếu tố này vẫn rất cần thiết, nhưng chúng không phản ánh toàn bộ vấn đề. Nguy cơ tử vong hoặc bị thương nặng của người lao động còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nhân khẩu học. Tổ chức RoSPA (The Royal Society for the Prevention of Accidents, UK) đã sử dụng dữ liệu từ Khảo sát Rủi ro Toàn cầu của Quỹ Lloyd’s Register – một cuộc khảo sát với khoảng 147.000 người trên 142 quốc gia – để phân tích cách thức mà bất bình đẳng trên toàn thế giới định hình rủi ro của người lao động bằng cách đánh giá nhiều đặc điểm nhân khẩu học quan trọng như mức thu nhập quốc gia nơi người lao động làm việc, thu nhập hộ gia đình, giới tính và trình độ học vấn. Khoa Môi trường xin giới thiệu tóm tắt báo cáo của RoSPA mới được công bố vào tháng 9/2026.

Bối cảnh

Mỗi năm, có 395 triệu người bị thương tích tại nơi làm việc, gần 400 triệu cuộc sống bị đảo lộn hàng năm. Con số này nhiều hơn toàn bộ dân số Hoa Kỳ.  Tai nạn hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ sáu trên toàn thế giới. Hậu quả kinh tế cũng nghiêm trọng không kém. Tai nạn và bệnh tật liên quan đến công việc đã làm mất đi 6% GDP toàn cầu vào năm 2019 – một tổn thất lớn hơn toàn bộ sản lượng kinh tế của các quốc gia như Singapore hay UAE (GBD 2019 Injuries Collaborators, 2024). Nếu tỷ lệ tai nạn và bệnh tật ở các nước có thu nhập thấp được giảm xuống ngang bằng với các quốc gia giàu có hơn, ước tính có thể cứu được 2 triệu sinh mạng – và ngăn ngừa được hơn 750 tỷ USD thiệt hại kinh tế mỗi năm.

Nhưng ngay cả những con số này cũng có thể đánh giá thấp quy mô thiệt hại thực sự. Ước tính chỉ có khoảng 51% người lao động toàn cầu bị thương nặng có báo cáo. Một phần lớn lực lượng lao động toàn cầu làm việc ở những nơi không chính thức và bấp bênh, nơi nỗi sợ mất việc khiến người lao động im lặng, và cơ sở hạ tầng an toàn đơn giản là không tồn tại. Điều này khiến việc xác định chính xác các khu vực cần can thiệp nhất trở nên vô cùng khó khăn.

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình hiện đang gánh chịu phần lớn gánh nặng tai nạn lao động – với 88% tổng số thương tích nghề nghiệp toàn cầu tập trung ở các quốc gia này (ILO, 2023). Bằng cách sử dụng Khảo sát Rủi ro Thế giới của Quỹ Lloyd’s Register, nghiên cứu của RoSPA củng cố điều này và đi sâu hơn nữa thông qua bằng chứng thống kê.

Người lao động ở châu Phi và khu vực Tây Thái Bình Dương phải đối mặt với tỷ lệ tai nạn lao động cao nhất

Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, 37% số người lao động đã từng trực tiếp trải qua tai nạn lao động nghiêm trọng, hoặc biết ai đó đã từng gặp phải, trong 2 năm qua. Châu Âu, châu Mỹ và khu vực Đông Địa Trung Hải, con số này từ 21% đến 22%.

Những kết quả này cho thấy toàn thế giới còn phải làm nhiều hơn nữa về an toàn lao động; tuy nhiên, rõ ràng vẫn còn một khoảng cách – và điều này không phải là ngẫu nhiên. Trên toàn cầu, 62% người lao động chưa từng được đào tạo về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (OSH), và tính đến năm 2023, chưa đến một nửa số quốc gia thành viên ILO có chính sách an toàn và sức khỏe nghề nghiệp quốc gia cập nhật, trong đó các quốc gia có thu nhập thấp có khả năng có chính sách này thấp hơn đáng kể so với các quốc gia có thu nhập cao (ILO, 2023). Điều này khiến người lao động phải làm việc trong khuôn khổ pháp lý yếu kém hơn, không có biện pháp phòng ngừa và thiếu tiếp cận với thiết bị bảo hộ và đào tạo.

Người lao động ở các quốc gia có thu nhập thấp hơn phải đối mặt với rủi ro cao hơn đáng kể

Thu nhập cá nhân, trình độ học vấn và giới tính có ảnh hưởng đến khả năng gặp rủi ro của một cá nhân, nhưng hiệu quả bảo vệ của các yếu tố này hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào bối cảnh quốc gia. Tại các quốc gia có thu nhập cao, kiếm được nhiều tiền hơn hoặc có bằng cấp mang lại sự bảo vệ đáng kể bằng cách giảm tỷ lệ thương tích. Tuy nhiên, tại các quốc gia có thu nhập thấp, những lợi thế tương tự lại mang đến sự an toàn ít hơn nhiều, vì chúng hầu như không làm giảm rủi ro cho người lao động. Tỷ lệ giảm rủi ro tại nơi làm việc của nhóm thu nhập cao nhất ở các nước thu nhập cao gần như gấp đôi ở các nước thu nhập thấp.

Học vấn và giới tính

Người lao động có trình độ đại học có khả năng từng gặp phải hoặc biết người từng gặp phải các tai nạn tại nơi làm việc cao hơn 38% so với những người có trình độ tiểu học. Điều này không nhất thiết có nghĩa là trình độ học vấn cao hơn sẽ dẫn đến rủi ro cao hơn tại nơi làm việc. Thay vào đó, sự khác biệt này có thể phản ánh sự khác nhau về loại hình công việc (người có trình độ học vấn cao hơn thường làm việc trong khu vực chính thức), mức độ nhận thức về các mối nguy tại nơi làm việc, cũng như khả năng nhận biết và báo cáo các chấn thương hoặc điều kiện làm việc không an toàn. Trong khi đó, người lao động có trình độ đại học ít có khả năng lo lắng bị tại nạn hơn 27% so với người lao động chỉ có trình độ tiểu học. Điều này có thể phản ánh nhận thức tốt hơn về quyền lợi của họ, khả năng tiếp cận thông tin tốt hơn và sự tự tin hơn trong việc sử dụng các hệ thống chính thức.

Nam giới có nguy cơ gặp tai nạn lao động cao hơn nữ giới. Trên toàn bộ dữ liệu, lao động nữ có tỷ lệ bị thương thấp hơn khoảng 18% so với đồng nghiệp nam. Khoảng cách này rõ rệt nhất ở các quốc gia có thu nhập thấp và thu hẹp dần ở các quốc gia giàu có.

Chỉ số tập trung (CI: Concentration Index)  

Chỉ số CI đo lường mức độ một tác động sai lệch khỏi sự phân bố đồng đều trong một nhóm. CI  bằng 0 có nghĩa là nguy hiểm được phân bố đều – tức là mọi người lao động, bất kể thu nhập, trình độ học vấn hay quốc tịch, đều phải đối mặt với cùng một rủi ro. Giá trị CI âm có nghĩa là nguy hiểm tập trung ở phía cuối thang đo kém hơn (người lao động nghèo, người lao động ít học hoặc người lao động ở các quốc gia có thu nhập thấp) và giá trị CI dương – ảnh hưởng nặng hơn đến những người ở phía cuối thang đo khá hơn.

Thu nhập quốc gia cho thấy chỉ số CI là -4,1%, chỉ ra sự tập trung nhỏ nhưng rõ ràng của các nguy hiểm tại nơi làm việc ở các quốc gia có thu nhập thấp hơn. Thu nhập cá nhân có chỉ số CI là -2%, cũng cho thấy sự tập trung nhẹ vào những người lao động nghèo hơn. Giới tính cho thấy -3% – cho thấy nguy hiểm tập trung ở nam giới, những người phải đối mặt với nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp cao hơn và được bảo vệ yếu hơn trong bối cảnh này. Trình độ học vấn, ở mức +0,5%, về cơ bản là trung tính, cho thấy nguy hiểm được phân bổ gần như đồng đều giữa các trình độ học vấn.

Sự thịnh vượng quốc gia đóng vai trò như một mức trần: một cá nhân có cải thiện hoàn cảnh của mình đến đâu, họ cũng không thể vượt lên trên hệ thống xung quanh

Sự thịnh vượng quốc gia có thể tạo ra chuyển biến khi nó được đầu tư cho các quy định chặt chẽ, cho đào tạo và thực thi hiệu quả; một số quốc gia có thu nhập cao đã chứng minh rằng việc sử dụng nguồn lực một cách có chủ đích có thể giảm thiểu đáng kể tai nạn. Sự tiến bộ của họ cho thấy rằng thay đổi cấu trúc là hoàn toàn khả thi.

Mặc dù đào tạo rất quan trọng, nhưng chúng ta không thể chỉ dựa vào đào tạo để giải quyết một vấn đề mang tính hệ thống. Các chương trình an toàn chỉ tập trung vào thay đổi hành vi cá nhân có thể không hiệu quả vì chúng không trực tiếp giải quyết môi trường kinh tế và cấu trúc mà các cá nhân đó đang hoạt động. Cần có một cách tiếp cận kết hợp – tập trung cả vào đào tạo và giáo dục cũng như vào cơ sở hạ tầng và hệ thống rộng lớn hơn mà mọi người đang làm việc. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khẳng định rằng nơi chúng ta sinh ra, sống và làm việc ảnh hưởng đến kết quả sức khỏe của chúng ta nhiều hơn hầu hết các yếu tố khác (WHO, 2025).  Vì lý do này, WHO đang thực hiện các chương trình thúc đẩy môi trường làm việc lành mạnh, an toàn và bền vững cho tất cả mọi người. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng có cùng quan điểm, khẳng định rằng giải quyết bất bình đẳng tại nơi làm việc không phải là điều tùy chọn, mà là điều kiện tiên quyết để xây dựng một thế giới công bằng hơn. Làm việc an toàn là một quyền cơ bản của con người và cần được coi là một thành phần cốt lõi của cơ sở hạ tầng quốc gia, thiết yếu như nước sạch hoặc điện ổn định (ILO, 1998, amended 2022).

Các nhà tài trợ quốc tế, chính phủ và các tập đoàn đa quốc gia phải hướng đầu tư vào việc xây dựng các hệ thống quy định và tiêu chuẩn an toàn có thể thực thi nhằm bảo vệ người lao động ở cấp độ cấu trúc. Điều đó có nghĩa là thu hẹp khoảng cách trong phạm vi chính sách an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, mở rộng sự bảo vệ sang nền kinh tế phi chính thức và tạo ra các hệ thống báo cáo mà người lao động có thể thực sự tin tưởng và tiếp cận được.

Đằng sau mỗi con số là một người đã đi làm và không bao giờ trở về nhà, hoặc tương lai của họ đã bị thay đổi không thể đảo ngược, bởi vì công việc của họ đặt họ vào tình thế nguy hiểm.

Tải về toàn văn báo cáo tại đây.

———————-

•  GBD 2019 Injuries Collaborators, 2024. Global, regional, and national burden of injuries, and burden attributable to injuries risk factors, 1990 to 2019: results from the Global Burden of Disease study 2019. Public Health, Volume 237, pp. 212-231.

• ILO, 1998, amended 2022. ILO Declaration on Fundamental Principles and Rights at Work and its Follow-up, s.l.: International Labour Organisation.

• ILO, 2023. A call for safer and healthier working environments, s.l.: International Labour Organisation.

•  Lloyd’s Register Foundation & Gallup, 2024. World Risk Poll 2024 Report Engineering safer workplaces: global trends in occupational safety and health, s.l.: Lloyd’s Register Foundation.

• WHO, 2025. World Report on Social Determinants of Health Equity. s.l.:World Health Organisation.

———————

Nguồn: https://www.rospa.com/safety-campaigns/global-accidents-at-work

Loading

Posted by: P.K.LIEU