Giá trị kinh tế của hành động khí hậu và không khí sạch tích hợp
Lợi ích kinh tế hàng năm từ việc thực hiện 25 biện pháp được nêu trong báo cáo này sẽ tương đương với:
♦ 2,8% GDP toàn cầu vào năm 2035
♦ 4,5% GDP toàn cầu vào năm 2050
♦ 11,4% GDP toàn cầu vào năm 2100.
Để so sánh, năm 2022, 2,18% GDP toàn cầu được chi cho trợ cấp nhiên liệu hóa thạch và năm 2023, 9,3% GDP toàn cầu được chi cho chăm sóc sức khỏe.
Mỗi năm trì hoãn hành động sẽ dẫn đến việc mất đi hơn 1,5 nghìn tỷ USD mỗi năm – tương đương 0,5% GDP – về tổng lợi ích thị trường và phi thị trường.
Ngay cả khi không tính đến các khoản phúc lợi phi thị trường, các biện pháp này vẫn mang lại lợi nhuận khoảng 4 USD cho mỗi 1 USD đầu tư.
Chi phí về con người do ô nhiễm không khí gây ra
Khoản thu về 15 USD này bao gồm những lợi ích thị trường có thể đo lường được – như giảm chi phí chăm sóc sức khỏe, tăng năng suất lao động và tránh được những tổn hại vật lý – cùng với giá trị tiền tệ của việc giảm số ca tử vong sớm và tăng sức khỏe tổng thể.
Vào năm 2025, phơi nhiễm ô nhiễm không khí ngoài trời (bụi PM2.5 và ozone) được cho là có liên quan đến khoảng 6,4 triệu ca tử vong sớm trên toàn thế giới. Ô nhiễm không khí trong nhà có liên quan đến thêm 2 triệu ca tử vong sớm khác, trong đó có khoảng 300.000 trẻ em.
Khác với các đánh giá trước đây, báo cáo này tính đến các tác động kinh tế của bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí, bao gồm áp lực lên hệ thống y tế, tổn thất năng suất và sức khỏe. Vào năm 2025, ô nhiễm không khí ngoài trời đã góp phần gây ra 5,5 triệu ca hen suyễn ở trẻ em, 2 triệu ca sa sút trí tuệ và hàng triệu ca đau tim, bệnh phổi, tiểu đường, đột quỵ và ung thư phổi.
Một gói 25 biện pháp đã được chứng minh hiệu quả
Gói biện pháp được xem xét trong báo cáo bao gồm 6 lĩnh vực (các hệ thống năng lượng và nhiên liệu hóa thạch, công nghiệp, giao thông vận tải, các hệ thống nông nghiệp và thực phẩm, đun nấu và sưởi ấm dân dụng, và quản lý chất thải) và kết hợp cả các biện pháp khử carbon dài hạn và các biện pháp nhắm vào các chất siêu ô nhiễm như methane, carbon đen và hydrofluorocarbon (HFC).
Các biện pháp bao gồm năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng, tăng cường các giải pháp nấu nướng và sưởi ấm sạch, tiêu chuẩn khí thải và hiệu quả nhiên liệu xe cộ nghiêm ngặt hơn, kiểm tra và bảo dưỡng, xe điện và nhiên liệu vận tải có hàm lượng lưu huỳnh thấp, thu hồi khí đồng hành để chấm dứt việc xả thải và đốt khí thường xuyên và giảm rò rỉ dầu khí, quản lý chăn nuôi và phân bón, sử dụng phân bón hiệu quả hơn, cải thiện canh tác lúa và các giải pháp thay thế cho việc đốt phụ phẩm mùa màng, quản lý tốt hơn chất thải rắn và nước thải, và giảm dần HFC.
Đến năm 2050, việc thực hiện đầy đủ 25 biện pháp này có thể ngăn ngừa tổng cộng 144 triệu ca tử vong sớm liên quan đến ô nhiễm không khí, trong đó có 96 triệu ca do ô nhiễm không khí xung quanh, và hàng trăm triệu trường hợp mắc bệnh mãn tính.

Những lợi ích về chất lượng không khí và khí hậu
So với kịch bản cơ sở của báo cáo, việc thực hiện ngay lập tức các biện pháp này sẽ giúp giảm một nửa phát thải CO2 toàn cầu vào năm 2050, giảm 60% phát thải methane và cắt giảm khoảng 70% các chất gây ô nhiễm không khí chính – bao gồm carbon đen, SO2 và NOx.
Các biện pháp này sẽ giúp tránh được mức nóng lên toàn cầu khoảng 0,34°C vào năm 2050 và 1,4°C vào năm 2100. Do nhiệt độ đất liền tăng nhanh hơn mức trung bình toàn cầu, nên mức độ nóng lên tránh được ở hầu hết các khu vực sẽ lớn hơn, ước tính đạt 1,5–2°C vào năm 2100. Đến cuối thế kỷ, phát thải CO2 theo kịch bản này sẽ ở mức âm ròng, trong khi các chất gây ô nhiễm không khí chính sẽ giảm tới 85%.
“Báo cáo này cung cấp bằng chứng xác thực nhất cho đến nay cho thấy việc coi biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí là hai vấn đề riêng biệt khiến chúng ta đánh giá thấp lợi ích của việc giải quyết từng vấn đề. Khi chúng tôi mô hình hóa cả hai cùng nhau, lợi ích thu được lớn hơn so với khi mỗi vấn đề được giải quyết riêng lẻ, vì cả hai có cùng các nguồn, các lĩnh vực và các chính sách,” Simon Dietz, Giáo sư Chính sách môi trường tại Trường Kinh tế London, đồng chủ tịch Báo cáo Đánh giá cho biết.
Thu hẹp khoảng cách thực hiện
Các rào cản về mặt thể chế – bao gồm việc ra quyết định phân mảnh, năng lực thực thi hạn chế và sự phối hợp yếu kém của chính phủ – là những rào cản quan trọng nhất trong quá trình thực hiện đã được xác định.
Tổng hợp lại, những rào cản này có nguy cơ làm chậm quá trình triển khai đầy đủ trên toàn cầu gần 8 năm. Việc giải quyết chúng, bao gồm cả thông qua các chính sách ưu đãi về tài chính và quy định cho phép khu vực tư nhân triển khai các công nghệ vừa có lợi nhuận vừa giảm phát thải, có thể đẩy nhanh quá trình triển khai và mở khóa thêm tới 10 nghìn tỷ USD lợi ích về sức khỏe vào năm 2040.
Báo cáo này kêu gọi lập kế hoạch tích hợp về khí hậu, chất lượng không khí, y tế và kinh tế, tăng cường thể chế và cơ chế thực thi, cũng như sự phối hợp tốt hơn giữa nguồn tài chính công và tư.
Có thể tải về bản báo cáo đầy đủ tại đây.
Nguồn: https://www.unep.org/resources/hidden-assets-economic-and-health-case-climate-and-clean-air-action
![]()
