UNEP: nóng lên toàn cầu sẽ vượt ngưỡng 1,5 độ C; lộ trình “vượt ngưỡng, đạt đỉnh và giảm dần” là lựa chọn tốt nhất còn lại

UNEP: nóng lên toàn cầu sẽ vượt ngưỡng 1,5 độ C; lộ trình “vượt ngưỡng, đạt đỉnh và giảm dần” là lựa chọn tốt nhất còn lại

Ngày 2/9/2026, Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) đã phát hành báo cáo “Hạn chế vượt ngưỡng – Ứng phó việc vượt ngưỡng 1,5oC và các lộ trình quay trở lại” (Limiting Overshoot – Navigating exceedance of 1.5°C and pathways towards return). Theo báo cáo, nhiệt độ toàn cầu dự kiến sẽ tăng vượt quá ngưỡng 1,5°C trong vài năm tới, đẩy các rủi ro và tác động của biến đổi khí hậu lên mức ngày càng nguy hiểm. Tuy nhiên, vẫn có thể đạt được các mục tiêu toàn cầu trong Hiệp định Paris với lộ trình “vượt ngưỡng, đạt đỉnh và giảm dần” – được cho là lựa chọn tốt nhất còn lại để giảm thiểu quy mô và thời gian của hiện tượng vượt ngưỡng này. Khoa Môi trường xin giới thiệu 13 nội dung chính của báo cáo. Link tải về toàn văn báo cáo có ở cuối bài.

  • 1. Mặc dù cộng đồng quốc tế đã đạt được những tiến bộ trong vấn đề biến đổi khí hậu, nhưng hành động toàn cầu nhằm cắt giảm phát thải khí nhà kính vẫn chưa đủ nhanh để ngăn chặn tình trạng nóng lên toàn cầu vượt ngưỡng 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp trong vài năm tới

Điều này đồng nghĩa với việc sẽ vượt qua mức nóng lên toàn cầu 1,5°C – mục tiêu cốt lõi về nhiệt độ dài hạn của Thỏa thuận Paris. Ngay cả trong kịch bản lạc quan dựa trên các cam kết hiện tại của các chính phủ (thực hiện đầy đủ mọi kế hoạch khí hậu quốc gia kết hợp với việc đạt được các mục tiêu bổ sung về phát thải ròng bằng không), mức tăng nhiệt độ đỉnh điểm dự kiến ​​vẫn ở mức 1,8°C.

  • 2. Việc vượt ngưỡng 1,5°C không nên được xem là an toàn hay có thể chấp nhận được; không có kịch bản nào là vô hại khi nhiệt độ toàn cầu tăng vượt quá mức này

Các rủi ro và tác động bao gồm mực nước biển dâng nhanh hơn, nguy cơ cao hơn về sự sụp đổ của các hệ sinh thái như rạn san hô, các đợt nắng nóng và cháy rừng khắc nghiệt hơn, cũng như những thay đổi sâu sắc đối với băng quyển (bao gồm các dải băng, băng biển, sông băng, lớp đất đóng băng vĩnh cửu và tuyết). Ví dụ, các sông băng có thể mất hơn 1/4 khối lượng vào năm 2100, điều này có thể làm mực nước biển dâng thêm từ 9 đến 12,5 cm (với mức nóng lên từ +3°C trở xuống) và làm thay đổi vĩnh viễn khả năng cung cấp nước tại nhiều nơi. Ngoài ra còn có nguy cơ cao hơn về việc chạm tới các điểm tới hạn không thể đảo ngược đối với các hệ thống toàn cầu – như các dải băng Tây Nam Cực và Greenland, Dòng hải lưu AMOC và rừng nhiệt đới Amazon – những thay đổi sẽ định hình lại thế giới vĩnh viễn.

Mặc dù vẫn còn những yếu tố chưa chắc chắn về thời điểm và mức độ tác động cũng như các ngưỡng tới hạn, nhưng rõ ràng là chúng sẽ gây tổn hại cho con người, xã hội và nền kinh tế, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển là đảo nhỏ (SIDS) và các thành phố nằm ở vùng đất thấp. An ninh lương thực và nguồn cung cấp nước sẽ bị ảnh hưởng; chẳng hạn, các dự báo cho thấy sản lượng lương thực toàn cầu có thể sụt giảm 14% vào năm 2050 nếu không có các biện pháp thích ứng hiệu quả. Các đợt nắng nóng diễn ra thường xuyên và gay gắt hơn, cùng với sự gia tăng các bệnh lý liên quan đến dinh dưỡng và nguy cơ lây truyền mầm bệnh, sẽ dẫn đến sự gia tăng về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong.

Các đô thị và cơ sở hạ tầng sẽ đối mặt với rủi ro lớn hơn từ các đợt nắng nóng và ngập lụt cường độ lớn hơn và kéo dài hơn. Hiện tượng đại dương ấm lên, nồng độ oxy suy giảm và độ axit gia tăng sẽ gây khó khăn cho sự sinh tồn của các loài sinh vật biển cũng như các cộng đồng phụ thuộc vào nguồn lợi từ biển. Nhu cầu năng lượng và chi phí tiêu dùng tăng cao, cùng áp lực lên hệ thống tài chính và bảo hiểm, sẽ đặt ra những rủi ro cho tất cả các quốc gia.

  • 3. Mục tiêu toàn cầu vẫn là hạn chế mức tăng nhiệt độ trung bình dài hạn ở ngưỡng 1,5°C

Tuy nhiên, việc vượt qua ngưỡng có nghĩa giờ đây mục tiêu này phải được tiếp cận từ phía trên cao, trong khi đồng thời thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu. Điều này đòi hỏi phải thực hiện và làm nhiều hơn các cam kết hiện có – thay vì từ bỏ chúng – song song với việc đẩy nhanh các biện pháp giảm thiểu và thích ứng.

Với những hành động chưa từng có tiền lệ, chúng ta hoàn toàn có thể giảm thiểu và thích ứng với các tác động khi vượt ngưỡng, cũng như đưa nhiệt độ trở lại mức 1,5°C – qua đó duy trì cơ hội bảo vệ người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương, giảm thiểu thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng và sinh kế, cũng như hỗ trợ con người và thiên nhiên. Để đạt được điều này, thế giới cần đi theo lộ trình “vượt ngưỡng, đạt đỉnh và giảm dần” ((overshoot, peak and decline): kiềm chế gia tăng nhiệt độ ở mức thấp nhất có thể, sau đó kéo giảm nhiệt độ vào cuối thế kỷ, đồng thời triển khai các biện pháp thích ứng nhằm giảm thiểu mức độ dễ bị tổn thương trước những tác động hiện tại hoặc dự kiến ​​của biến đổi khí hậu.

Đây hoàn toàn không phải là một lộ trình chấp nhận được hay mong muốn; nó đơn thuần chỉ là lựa chọn tốt nhất còn lại.

  • 4. Việc tránh dù chỉ một phần nhỏ mức tăng thêm của tình trạng nóng lên toàn cầu và rút ngắn thời gian vượt ngưỡng nhiệt độ mục tiêu sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và thiệt hại, đồng thời gia tăng cơ hội đưa nhiệt độ giảm trở lại

Thời gian và mức độ nghiêm trọng của giai đoạn vượt ngưỡng, lộ trình đạt đỉnh và kéo giảm nhiệt độ, cũng như khả năng ứng phó của các cộng đồng, sẽ phụ thuộc vào tốc độ cắt giảm phát thải và tốc độ triển khai các biện pháp thích ứng mang tính chuyển đổi. Việc giảm phát thải khí methane và các khí nhà kính có thời gian sống ngắn khác đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn trước mắt. Việc tăng cường năng lực thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu đòi hỏi ý chí chính trị mạnh mẽ, hành động đa phương khẩn trương, cùng các chính sách và nguồn tài chính hiệu quả – trong đó sự công bằng, công lý và nguyên tắc trách nhiệm có phân biệt đóng vai trò là các nguyên tắc chỉ đạo.

  • 5. Phản ứng toàn cầu cần bao gồm ba giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: phản ứng tức thời, ứng phó và kiểm soát, và xây dựng khả năng chống chịu dài hạn

– Giai đoạn phản ứng tức thời (khi nhiệt độ tiệm cận và sau đó vượt ngưỡng 1,5°C): Làm chậm quá trình nóng lên thông qua việc cắt giảm mạnh phát thải, bao gồm cả khí methane và các khí nhà kính có thời gian sống ngắn khác. Triển khai các biện pháp thích ứng khẩn cấp nhằm bảo vệ những nhóm người và hệ sinh thái dễ bị tổn thương nhất.

– Giai đoạn ứng phó và kiểm soát (khi nhiệt độ đạt đỉnh): Thúc đẩy quá trình khử carbon sâu rộng và bền vững để đạt mục tiêu ít nhất là phát thải ròng bằng không. Xây dựng khả năng chống chịu của xã hội, đồng thời quản lý các tác động và rủi ro nghiêm trọng.

– Giai đoạn xây dựng khả năng chống chịu dài hạn (khi nhiệt độ giảm và ổn định): Đạt được mức phát thải ròng âm đối với CO₂ một cách bền vững. Tăng cường tính bền vững và khả năng chống chịu. Đảm bảo khả năng thích ứng lâu dài tại những nơi đã chạm tới các giới hạn không thể đảo ngược.

Trên thực tế, nhiều giai đoạn sẽ cùng tồn tại theo thời gian cũng như giữa các vùng và ngay trong nội bộ từng vùng. Các tác động dự kiến ​​sẽ tích tụ một cách linh hoạt dọc theo lộ trình vượt ngưỡng, đạt đỉnh và giảm dần, trong đó mỗi giai đoạn đều kế thừa những hệ quả từ các giai đoạn trước đó.

  • 6. Giảm nhẹ và thích ứng có mối liên hệ mật thiết về mặt bản chất và cần được triển khai song hành trong mọi giai đoạn

Cả giảm nhẹ và thích ứng đều đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết thách thức khí hậu cũng như bảo vệ các hệ thống tự nhiên và con người. Nhiều biện pháp can thiệp có thể đồng thời đạt được các mục tiêu về thích ứng và giảm nhẹ; chẳng hạn như việc gia tăng độ che phủ của tán cây đô thị vừa giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do nắng nóng, vừa giảm nhu cầu sử dụng các phương thức làm mát gây ô nhiễm và tiêu tốn nhiều năng lượng.

Việc giảm nhẹ yếu kém sẽ làm gia tăng các tác động tiêu cực và có nguy cơ chuyển hướng nguồn lực sang các hoạt động ứng phó khẩn cấp thay vì các hành động khí hậu cần thiết, từ đó tạo ra một vòng lặp tác động qua lại. Tuy nhiên, ngay cả những nỗ lực giảm nhẹ thành công nhất cũng không thể loại bỏ nhu cầu thích ứng: mức tăng nhiệt độ 1,5°C vẫn không được coi là an toàn đối với hầu hết các quốc gia, cộng đồng, hệ sinh thái và các ngành kinh tế. Trong khi đó, các kế hoạch thích ứng hiện tại và quá trình triển khai thường bỏ qua mối liên hệ với giảm nhẹ, xem nhẹ các vấn đề bất bình đẳng, cũng như chưa giải quyết thỏa đáng các vấn đề về tổn thất, thiệt hại và giới hạn của khả năng thích ứng. Nếu thiếu sự thích ứng phù hợp, chính các cơ sở hạ tầng được xây dựng nhằm mục đích cắt giảm khí thải cũng sẽ phải đối mặt với rủi ro.

Do đó, các hành động nhằm giảm thiểu và quản lý rủi ro biến đổi khí hậu cần được tư duy, định hình và điều chỉnh lại một cách căn bản để phù hợp với lộ trình “vượt ngưỡng – đạt đỉnh – giảm dần”.

  • 7. Để định hướng lộ trình “vượt ngưỡng, đạt đỉnh và giảm dần”, thế giới cần áp dụng các phương thức chủ động triển khai cơ chế quản trị linh hoạt và đa cấp độ, đặc biệt là trong công tác thích ứng

Những phương thức này là cần thiết để lường trước các rủi ro sắp tới, tích hợp tri thức mới, cũng như giảm thiểu và thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu trước khi chúng ập đến với cường độ mạnh nhất; đồng thời đảm bảo sự linh hoạt cần thiết để ứng phó với những yếu tố bất định gắn liền với quá trình giảm nhiệt độ về mức 1,5°C. Các biện pháp thích ứng được thiết lập ngay từ bây giờ sẽ tạo nền tảng cho mọi nỗ lực trong tương lai, nhưng chúng cần mang tính chuyển đổi và có khả năng ứng phó hiệu quả với các rủi ro phi tuyến tính và đột phát đang biến đổi không ngừng, đồng thời phải tính đến việc các rủi ro này sẽ xảy ra không đồng đều giữa các khu vực hoặc hệ thống. Những thay đổi sâu sắc được dự báo – chẳng hạn như nguy cơ các đảo quốc nhỏ đang phát triển (SIDS) hoặc các thành phố ven biển thấp trũng bị nhấn chìm, hay nhiều khu vực trên thế giới trở nên không thể sinh sống được – cho thấy rằng các biện pháp điều chỉnh dần dần là chưa đủ.

Thích ứng mang tính chuyển đổi đòi hỏi phải lồng ghép sự linh hoạt, cập nhật liên tục đường cơ sở trong suốt mọi giai đoạn.

  • 8. Các phương pháp loại bỏ CO2 (CDR) – cả truyền thống lẫn mới – sẽ cần thiết thêm vào (chứ không phải thay thế) việc cắt giảm bền vững phát thải khí nhà kính còn lại; tuy nhiên, các phương pháp CDR cũng đi kèm với những rủi ro và sự đánh đổi có thể hạn chế tiềm năng của chúng, đòi hỏi phải có các khuôn khổ quản trị chặt chẽ nhằm đảm bảo việc triển khai CDR diễn ra một cách có trách nhiệm và phù hợp

CDR bao gồm hai hình thức: truyền thống (như trồng rừng và phục hồi hệ sinh thái) và mới (như năng lượng sinh học kết hợp thu giữ và lưu trữ carbon, hay thu giữ và lưu trữ carbon trực tiếp từ không khí). Tuy nhiên, CDR chỉ có thể đóng góp hiệu quả vào mục tiêu đưa nhiệt độ toàn cầu trở lại mức dưới 1,5°C trong thế kỷ 21 nếu mức đỉnh nhiệt độ được duy trì ở ngưỡng thấp hơn nhiều so với 2°C, đồng thời tất cả phát thải CO2 còn lại, phát thải methane và các loại khí nhà kính khác đều được cắt giảm.

Khi nhiệt độ vượt quá ngưỡng khoảng 1,8°C, việc đưa nhiệt độ giảm xuống mức 1,5°C trong thế kỷ 21 sẽ trở nên ngày càng khó khăn. Trong một tương lai nóng lên, khả năng loại bỏ và lưu trữ carbon tự nhiên có nguy cơ bị suy giảm, trong khi sự xung đột giữa các mục tiêu phát triển bền vững và CDR có thể hạn chế tính khả thi của các chiến lược giảm thiểu đòi hỏi nhiều diện tích đất.

Sẽ cần hơn 100 năm trồng và quản lý rừng ở quy mô hiện tại, cùng với việc cắt giảm hoàn toàn phát thải CO2 còn dư, mới có thể giảm mức độ nóng lên toàn cầu thêm 0,1°C. Trong khi đó, khả năng giảm nhiệt độ thông qua các phương pháp loại bỏ carbon (CDR) mới dựa trên công nghệ lưu trữ carbon trong địa chất cũng bị hạn chế. Ngay cả khi chỉ duy trì mức phát thải CO₂ ròng bằng không, công suất lưu trữ ước tính hiện có tại các bồn trầm tích cũng có thể bị lấp đầy hoàn toàn vào năm 2200.

Mặc dù việc nhanh chóng mở rộng quy mô CDR là vô cùng quan trọng – song hành cùng nỗ lực cắt giảm phát thải khẩn trương và mạnh mẽ – thì cũng cần thiết phải có các khuôn khổ quản trị chặt chẽ. Các khuôn khổ này nhằm quản lý những tác động liên quan đến công bằng, quy mô và mức độ triển khai, đồng thời thiết lập các cơ chế kiểm soát cần thiết khi nghiên cứu những công nghệ mới còn nhiều yếu tố bất định và tiềm ẩn nguy cơ gây ra các hậu quả tiêu cực ngoài ý muốn.

Nhìn chung, ngay cả với kịch bản lạc quan về việc mở rộng quy mô các giải pháp CDR, khó có khả năng đạt được mức giảm nhiệt độ đáng kể – vượt quá vài phần mười độ C – trong thế kỷ này. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trung cắt giảm phát thải khí nhà kính ngay từ bây giờ.

  • 9. Công bằng và công lý phải là trọng tâm của các chiến lược hiệu quả nhằm bảo vệ những nhóm dễ bị tổn thương, tạo ra sự chuyển đổi công bằng cho cộng đồng và lực lượng lao động, cũng như đảm bảo một tương lai đáng sống cho các thế hệ mai sau

Các quốc gia có trách nhiệm lịch sử lớn hơn đối với biến đổi khí hậu và có năng lực giải quyết vấn đề này cần hành động quyết liệt và nhanh chóng nhất. Những quốc gia chịu tác động nặng nề và bất cân xứng bởi biến đổi khí hậu phải là một phần không thể thiếu và được tôn trọng trong quy trình ra quyết định toàn cầu; họ cần đóng vai trò chủ động trong việc triển khai các biện pháp giảm thiểu và thích ứng – dựa trên cơ sở khoa học và các nguyên tắc công bằng – như một vấn đề sống còn.

  • 10. Ngay cả khi đạt được mục tiêu giảm nhiệt độ xuống dưới 1,5°C, nhiều quốc gia và cộng đồng sẽ phải đối mặt với những tổn thất không thể phục hồi và điều kiện sống thay đổi vĩnh viễn

Các tác động như mực nước biển tiếp tục dâng cao, sự tuyệt chủng của các loài và sự dịch chuyển hệ sinh thái có thể tiếp diễn rất lâu sau khi nhiệt độ đạt đỉnh. Nhiều cộng đồng có thể đã phải di dời hoặc thay đổi sinh kế. Xã hội sẽ phải đối mặt với thách thức điều chỉnh lại: các hệ thống nông nghiệp được cấu hình cho nhiệt độ cao hơn có thể cần phải được tái thích nghi; cơ sở hạ tầng được thiết kế cho các hiện tượng khí hậu cực đoan có thể trở nên không phù hợp; các cộng đồng bị suy yếu bởi hàng thập kỷ khủng hoảng sẽ phải đối mặt với khả năng chuyển đổi thứ hai; và sự thích ứng sai lệch từ các biện pháp giảm thiểu có thể là một vấn đề.

  • 11. Hậu quả lâu dài của việc vượt quá giới hạn đặt ra các vấn đề về công lý, quyền lực và tính hợp pháp chính trị, điều này sẽ đòi hỏi các thỏa thuận quản trị toàn diện vượt xa những gì hầu hết các cơ chế quản trị khí hậu hiện nay hình dung

Các cơ chế quản trị ở mọi quy mô sẽ phải phát triển để giải quyết những vấn đề khó khăn, chẳng hạn như quyết định những gì cần được xây dựng lại, sinh kế được tái cấu trúc như thế nào, cách giải quyết thiệt hại và mất mát ra sao, và chủ quyền cũng như quyền lợi của các quốc đảo nhỏ và người dân của họ được tôn trọng như thế nào ngay cả khi lãnh thổ của họ đối mặt với nguy cơ ngày càng tăng về khả năng không thể sinh sống được.

  • 12. Hành động nhanh chóng, mang tính tập thể và toàn cầu là yếu tố sống còn – trong đó ý chí chính trị mạnh mẽ, chủ nghĩa đa phương và công tác quản trị đóng vai trò là những điều kiện tiên quyết để thúc đẩy mọi nỗ lực

Đối với cả hai khía cạnh giảm nhẹ và thích ứng, các quốc gia cần tăng cường hợp tác quốc tế, điều chỉnh chính sách và thể chế cho phù hợp với thực tế vượt ngưỡng, đồng thời đẩy mạnh đáng kể việc huy động tài chính, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực. Chủ nghĩa đa phương hiệu quả đóng vai trò thiết yếu trong việc phối hợp hành động xuyên biên giới và giữa các thế hệ, quản lý các rủi ro chung, cũng như đảm bảo rằng những quốc gia ít chịu trách nhiệm và kém năng lực nhất không bị bỏ lại một mình gánh chịu những hậu quả nặng nề nhất.

  • 13. Do lộ trình “vượt ngưỡng, đạt đỉnh và giảm dần” có thể diễn ra trong khoảng thời gian từ vài thập kỷ đến hàng thế kỷ và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bất định, các cuộc thảo luận cũng như nỗ lực được khởi xướng từ báo cáo này cần phải phát triển tương ứng với những thách thức đó

Triển vọng về một lộ trình vượt ngưỡng mở ra những chân trời mới cho nghiên cứu và khoa học, nhằm củng cố và hỗ trợ việc nâng cao hiểu biết, hoạch định chính sách, quản trị và ra quyết định. Do đó, các cơ sở khoa học, chính sách và thể chế cần thiết để định hướng lộ trình này phải không ngừng phát triển khi kiến ​​thức và các điều kiện thực tế thay đổi.

Cần đặc biệt chú trọng đến giai đoạn giảm dần (vốn chưa được hiểu rõ), tính bền vững và công bằng trong hoạt động loại bỏ carbon, các tác động lâu dài và không thể đảo ngược, cũng như việc thích ứng khi nhiệt độ đạt đỉnh và sau đó giảm dần.

Báo cáo này không đưa ra một khuôn mẫu định sẵn, mà là nền tảng cho các hoạt động nghiên cứu, học hỏi, hành động và ra quyết định có sự tham gia của nhiều bên qua nhiều thế hệ.

Các vấn đề về công bằng và sự đánh đổi đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, học hỏi và định hình khi trách nhiệm được chuyển giao giữa các thế hệ, giữa các khu vực địa lý khác nhau, cũng như trong phạm vi các quốc gia và cộng đồng.

Link tài về toàn văn báo cáo của UNEP tại đây.

Nguồn: https://www.unep.org/news-and-stories/press-release/unep-world-set-cross-15degc-global-warming-can-still-limit-adapt-and

Loading

Posted by: P.K.LIEU